Điều tra cơ bản Những ứng dụng thực tiễn của việc khảo sát hiệu điện thế sinh học hệ kinh lạc

Muốn ứng dụng bất cứ 1 loại máy, 1 dụng cụ, 1 phương pháp chẩn đoán, điều trị bệnh nào trên người ; trước hết , đều phải khảo sát xem nó có làm tổn hại sức khoẻ của súc vật bình thường không, sau đó phải nghiên cứu xem nó có chẩn đoán, hoặc điều trị được bệnh cho súc vật không. Nếu nghiên cứu trên súc vật đạt được kết quả mong muốn, mới được khảo sát trên người khoẻ mạnh để thu thập những thông số cần thiết do máy, hay dụng cụ, hoặc phương pháp chẩn đoán, điều trị tác động lên người bình thường, không bệnh tật.

Sau các bước điều tra cơ bản trên, mới tới bước nghiên cứu chẩn đoán, điều trị trên người bệnh.

Tuy nhiên, với loại máy hay dụng cụ hoặc phương pháp chẩn đoán, điều trị chắc chắn vô hại với sức khoẻ thì có thể bỏ qua giai đoạn khảo sát trên súc vật.

Máy đo HĐT sinh học của chúng tôi hoàn toàn vô hại cho sức khoẻ, vì máy không đưa dòng điện ngoài vào cơ thể, còn dòng sinh điện của cơ thể sau khi đi qua máy đo lại quay trở về cơ thể. Mặt khác, hệ kinh lạc của súc vật có nhiều chỗ khác với hệ kinh lạc của người, nên chúng tôi bỏ qua giai đoạn điều tra trên súc vật.

 

1. Chọn đối tượng cho điều tra cơ bản:

Đối tượng chúng tôi chọn để điều tra cơ bản là những vận động viên (VĐV) của các bộ môn thể dục, thể thao; những VĐV này phải đang luyện tập bình thường. Đây là những đối tượng có sức khoẻ tốt và rất dẻo dai trong luyện tập.

 

2. Chọn huyệt khảo sát:

Chúng tôi chọn 24 huyệt Nguyên để khảo sát trước, vì huyệt Nguyên là huyệt chính của mỗi đường kinh, lại là nơi Nguyên khí của cơ thể đi qua và dừng lại, nên có mối quan hệ khăng khít với đường kinh chủ quản nó.

 

3. Thao tác kỹ thuật:

Chúng tôi thực hiện đầy đủ những yêu cầu về máy và các thao tác kỹ thuật để bảo đảm tính đồng nhất, như đã nói trong phần A và phần C (từ mục C.1 đến mục C.4) của chương hai.

 

4. Nhận xét về kết quả của điều tra cơ bản:

Chúng tôi đã đo được HĐT của 24 huyệt Nguyên trên 136 VĐV ( 65 VĐV Nam, 71 VĐV Nữ), thuộc 6 bộ môn: Thể dục dụng cụ, Aerobic, Karate, Tân thủ Wushu, Wushu Talu, Vật.

 

4.1. Các đặc điểm của HĐT 2 pha:

Vì chưa tìm được hàm số đếm số pha dương pha âm hay hàm số đếm số chu kỳ trong thời gian đo, cũng như hàm số tính diện tich mỗi pha; nên chúng tôi chưa phân tích được những đặc tính có quy luật của 2 pha dương âm, tần số và diện tích các pha. Những vấn đề này đành lưu lại, khi nào chúng tôi tìm được các hàm số này, chúng tôi sẽ làm tiếp.

Nhưng chỉ lấy việc thống kê phân tích các trị số hiệu điện thế đo cách nhau mỗi khoảng thời gian 0.25 giây, kéo dài 2 phút; dựng chúng thành điện đồ HĐT trong thời gian đo. Sau đó tính HĐT trung bình của mỗi huyệt và HĐT trung bình của cả 24 huyệt để so sánh, phân tích; chúng tôi đã thấy nhiều quy luật đáng quan tâm.

 

4.1.1. Sự khác nhau giữa điện huyệt đồ với điện não đồ và điện tâm đồ:

Điện đồ của hiệu điện thế chúng tôi ghi được khác với điện não đồ và điện tâm đồ cả về trị số hiệu điện thế, tần số và hình dáng. Qua khảo sát thử trước khi tiến hành nghiên cứu chúng tôi thấy:

Biên độ hiệu điện thế rất cao từ mươi mV đến năm, sáu trăm mV.

Tần số rất thấp, nếu khoảng cách thời gian giữa 2 lần đo liên tiếp = 0,25” thì ghi được các điện đồ có tần số trung bình =1,8-1,1 hz (tính bằng đo thủ công trên điện đồ), nếu khoảng cách giữa 2 lần đo liên tiếp = 0,5” các điện đồ ghi được có tần số = 0,32-0,032 Hz, nếu khoảng cách giữa 2 lần đo liên tiếp = 1”các điện đồ ghi được có tần số = 0,14-0,016 Hz.

Hình dạng điện đồ thường không đều, ít khi gặp các chu kì có hình dạng giống hệt nhau như điện tâm đồ. Ở cả pha âm và pha dương thường có sóng phụ.

 

4.1.2. Các hiệu điện thế trung bình (HĐTTB):

Hai, ba lần đo đầu trị số đo được chưa ổn định, nên chúng tôi bỏ 5 lần đo đầu không lấy vào thống kê.

Đo HĐT với khoảng cách 0,25 giây mỗi lần đo, trong 2 phút mỗi huyệt sẽ đo được 480 trị số HĐT, bỏ 5 lần đo đầu còn 475 trị số.

Như vậy:

HĐTTB của mỗi huyệt Nguyên trên mỗi VĐV là trung bình cộng của 475 trị số HĐT đo được trên mỗi huyệt.

HĐTTB của mỗi huyệt Nguyên trên 136 VĐV là trung bình cộng của 475*136 = 64.600 trị số HĐT đo được tại huyệt Nguyên ấy trên cả 136 VĐV.

HĐTTB của 24 huyệt Nguyên trên mỗi VĐV là trung bình cộng của 475*24 = 11.400 trị số HĐT đo dược trên cả 24 huyệt.

HĐTTB của tất cả các số đo là trung bình cộng của 11.400*136 = 1.550.400 trị số HĐT đo được trên cả 24 huyệt Nguyên của cả 136 VĐV.

Trên cả 136 VĐV, HĐTTB của mỗi huyệt Nguyên  và hiệu điện thế trung bình của cả 24 huyệt Nguyên trung bình  theo bảng dưới :

 

Ở bảng trên, trị số T tính theo mẫu điều tra có các biến số cùng là hiệu điện thế (biến số liên tục), trên cùng 1 đối tượng, trong cùng 1 thời điểm, chúng tôi thấy: có 22 huyệt sự chênh lệch hiệu điện thế của huyệt so với hiệu điện thế trung bình chung của 24 huyệt có ý nghĩa thống kê, với T >3; chỉ có huyệt Đại lăng phải và Khâu khư trái là không có ý nghĩa thống kê, T <2, có nghĩa: 2 huyệt này không chênh lệch rõ ràng với hiệu điện thế trung bình chung, còn 22 huyệt khác có sự chênh lệch rõ ràng, chúng đều ở thế cân bằng động.

 

4.1.3. Cân bằng động và mất cân bằng động:

Nếu lấy hiệu điện thế trung bình chung của cả 24 huyệt cộng trừ 2 lần độ lệch chuẩn  để có 95% trị số hiệu điện thế nằm trong khoảng lệch này (chúng tôi coi đây là giới hạn cân bằng động của hoạt động điện trong cơ thể người khỏe mạnh), thì 3.264 huyệt Nguyên của cả 136 VĐV chỉ có 52 huyệt mất cân bằng động, số huyệt ở trong thế cân bằng động (CBĐ) đạt tới 98.4% .

Nếu lấy HĐTTB chung của cả 24 huyệt Nguyên cộng trừ 1 lần độ lệch chuẩn  để có 68% trị số hiệu điện thế nằm trong giới hạn CBBĐ thì số huyệt mất CBĐ của 136 VĐV chỉ có 494 huyệt, còn 2.770 huyệt ở trong thế CBBĐ, đạt tới  85% .

Hai tỉ lệ của các huyệt ở trong thế CBĐ lớn hơn trị số sác xuất 95% và 68% khá cao, chứng tỏ 136 VĐV này là người khỏe mạnh (đúng thế, họ vẫn đang luyện tập bình thường).

Các dữ liệu của điểm (A.4.1.2) và (A.4.1.3) là thành công chính của lần điều tra cơ bản này, vì nó cho biết : Các VĐV khoẻ mạnh bình thường nên 24 HĐTTB của 24 huyệt Nguyên có trên 98% ở trong giới hạn CBĐ của HĐTTB cả 24 huyệt với độ lệch chuẩn 2σ, và trên 85% ở trong giới hạn CBĐ vói độ lệch chuẩn 1σ.

Thành công này có rất nhiều giá trị thực tiễn trong chẩn đoán và chữa bệnh. Nó là cơ sở để xây dựng những mô hình chẩn đoán sức khoẻ và điều trị bệnh, dựa trên sự CBĐ hay mất CBĐ của HĐTTB 24 huyệt Nguyên.

 

+ Chẩn đoán HĐTTB của 24 huyệt Nguyên không bệnh :

- Bảng thống kê HĐTTB 24 huyệt Nguyên của 1 người không bệnh phải có trên 98% huyệt ở trong giới hạn CBĐ của HĐTTB cả 24 huyệt với độ lệch chuẩn 2σ, và trên 85% ở trong giới hạn CBĐ vói độ lệch chuẩn 1σ.

- HĐTTB của huyệt nào ở dưới giới hạn cao, trên giới hạn thấp của HĐTTB cả 24 huyệt với độ lệch 1σ là huyệt đó không bệnh. Có 24 HĐTTB ở dưới giới hạn cao, trên giới hạn thấp của HĐTTB của cả 24 huyệt với độ lệch 1σ là HĐT của 1 cơ thể khoẻ mạnh.

- HĐTTB của huyệt nào ở giữa giới hạn cao của 2 độ lệch 1σ và 2σ, không kèm dấu hiệu bệnh lý trên điện đồ hay triệu chứng bệnh lý trên lâm sàng , là huyệt đó không bệnh nhưng thiên về dương mạnh .

- HĐTTB của huyệt nào ở giữa giới hạn thấp của 2 độ lệch 1σ và 2σ, không kèm dấu hiệu bệnh lý trên điện đồ hay triệu chứng bệnh lý trên lâm sàng, là huyệt đó không bệnh nhưng thiên về Âm mạnh.

 

+ Chẩn đoán HĐTTB của 24 huyệt Nguyên có không bệnh:

- Nếu bảng thống kê HĐTTB 24 huyệt chỉ có HĐTTB của 1 huyệt mất CBĐ với độ lệch 2σ nhưng lại kèm dấu hiệu bệnh lý trên điện đồ, hay triệu chứng bệnh lý trên lâm sàng, là huyệt đó có bệnh, hoặc kinh mạch hay tạng phủ chủ quản huyệt đó có bệnh. Chưa đến mức là bệnh của toàn thân.

Nếu có nhiều HĐTTB mất CBĐ chỉ vói độ lệch 2σ, hay với cả 2 độ lệch thì không cần kèm dấu hiệu bệnh lý khác cũng vẫn là toàn cơ thể có bệnh.

- Nếu HĐTTB chỉ mất CBĐ với độ lệch 1σ, không kèm dấu hiệu bệnh lý trên điện đồ, hay triệu chứng bệnh lý trên lâm sàng, cũng vẫn có thể đã nhiễm bệnh nhưng còn đang trong thời kỳ ủ bệnh.

- Nếu HĐTTB mất CBĐ kèm dấu hiệu bệnh lý trên điện đồ  hay triệu chứng bệnh lý, nhưng không có triệu chứng toàn thân, là chỉ mắc bệnh ở một vài kinh lạc, tạng phủ nào đó.

- Nếu HĐTTB mất CBĐ kèm dấu hiệu bệnh lý trên điện đồ,  hay triệu chứng bệnh lý toàn thân, hoặc có rất nhiều huyệt mất CBĐ đều là toàn cơ thể mắc bệnh.

 

4.1.4. So sánh trị số HĐT giữa nam và nữ:

Trị số HĐT trung bình chung 24 huyệt của nam lớn hơn nữ 3.59mV, với trị số T có ý nghĩa thống kê. Ngoài ra, nhiều dữ liệu khác trị số HĐT trung bình của nam cũng lớn hơn nữ, với ý nghĩa thống kê rất cao:

 

Trong bảng trên chỉ có số HĐT+ của nữ cao hơn nam, số HĐT- của nam cao hơn nữ, nhưng đều không có ý nghĩa thống kê.

Phải chăng sự chênh lệch này phản ảnh đặc điểm nam thuộc phái mạnh, năng hoạt động, gánh vác nhiều trọng trách, nên cần có 1 hiệu điện thế luôn thay đổi (2 pha) lớn hơn nữ ?

 

4.1.5. So sánh HĐT giữa các cặp cùng tính:

Bản thống kê dưới đây cho thấy nhiều cặp HĐT đại diện cho 2 dữ liệu cùng 1 tính, lại có HĐT chênh lệch nhau rõ rệt, có trị số T rất cao.

 

+ Chênh lệch giữa tính âm và tính dương :

Ta thấy cặp số lần đo được HĐT+,  hay HĐT- và cặp HĐT trung bình của 12 huyệt Nguyên thuộc kinh âm , hay 12 huyệt Nguyên thuộc kinh dương; tuy chúng đại diện cho 2 dữ liệu khác nhau, nhưng lại có sự tương đồng kỳ lạ. Số lần đo được HĐT- nhiều hơn HĐT+ 3 lần, tương ứng với HĐT trung bình của 12 huyệt Nguyên âm cũng cao hơn huyệt Nguyên dương 1.19mV. Ở bảng chênh lệch giữa nam với nữ, 2 loại chênh lệch này ở nam cũng cao hơn nữ.

Phải chăng vì trong sinh học, để duy trì sự sống và phát triển, sinh vật cần được dinh dưỡng và chuyển hoá thức ăn đã hấp thu được. Nên dòng sinh điện 2 pha phải có sóng âm lớn hơn sóng dương, vì sóng âm kich thích chuyển hoá dinh dưỡng mạnh hơn, còn sóng dương kích thích hoạt động chức năng mạnh hơn.

Điều làm ta ngạc nhiên hơn nữa: hiện tượng vừa phân tích, không chỉ phù hợp với các quy luật sinh lý học hiện đại; mà còn phù hợp với cả học thuyết Âm Dương của Y học cổ truyền, vì Âm chủ sinh, Dương chủ trưởng (lớn lên); Âm là chất, Dương là khí; Âm chủ tĩnh, Dương chủ động; nên sóng điện âm và HĐT của các huyệt âm phải lớn hơn sóng điện dương và HĐT của các huyệt dương.

+ Chênh lệch giữa HĐT ở huyệt chân và HĐT ở huyệt tay:

Cặp HĐTTB của các huyệt Nguyên ở chân lớn các huyệt ở tay 1.49mV. Chênh lệch này không phản ảnh các quy luật của sinh lý học hay Y học cổ truyền; nó phản ảnh quy luật về truyền dẫn điện, vì tiết diện của chân lớn hơn của tay nhiều lần, nên điện trở của chân thấp hơn của tay, do đó HĐT đo được lớn hơn. Mặt khác, do tiết diện chân lớn hơn tay nên các đường sức của ĐTTHTB toàn cơ thể truyền qua nhiều hơn, do đó HĐT đo được lớn hơn.

Kết hợp với bảng chênh lệch HĐT giữa nam nữ, tuy HĐT tay chân nam đều lớn hơn tay chân nữ, nhưng HĐT trung bình của chân nam chỉ lớn hơn của tay nam 1.35mV, còn HĐT trung bình của chân nữ lớn hơn của tay nữ 1.62mV. Chênh lệch của nữ lớn hơn nam là vì chân nữ thường lớn hơn chân nam. So sánh này càng cho thấy: HĐT trung bình của chân lớn hơn tay là tuân theo quy luật truyền dẫn điện.

+ Chênh lệch giữa HĐT của huyệt ở bên phải với huyệt ở bên trái:

Căp HĐT trung bình của các huyệt Nguyên ở bên trái lớn hơn các huyệt nguyên bên phải 0.43mV. Tuy trị số T khẳng định tính quy luật của sự chênh lệch này, nhưng trị số của nó bé hơn T của các cặp khác nhiều, T của nó chỉ là 3,92 trong khi T của tât cả các cặp khác đều lớn hơn 10.

Chúng tôi chưa giải thích được lý do vì sao HĐT bên trái lớn hơn HĐT bên phải.

 

4.2. Hai đặc tính quan trọng của HĐT huyệt Nguyên:

Tuy chưa biết hàm số nào đếm được mỗi điện đồ có bao nhiêu loại tần số, và trong cả thời gian đo mỗi loại tần số có bao nhiêu chu kỳ lặp lại. Song bằng cách nhìn khái quát và đếm thử thời gian của một số chu kỳ, chúng tôi cũng phát hiện được 2 đặc tính rất quan trọng của điện đồ hiệu điện thế 2 pha đo trên 24 huyệt Nguyên

4.2.1. HĐT huyệt Nguyên có 2 phức bộ sóng:

Trên cả 24 điện đồ ta thấy có 2 phức bộ sóng chủ yếu:

+ Phức bộ sóng nhanh tạo nên bởi rất nhiều sóng có tần số khoảng 2Hz, thỉnh thoảng chen vào 1 chu kỳ sóng dài hơn (F khoảng 1,33Hz).

+ Phức bộ sóng châm tạo nên bởi rất nhiều sóng có tần số chậm hơn (F khoảng 0.66Hz), thỉnh thoảng chen vào 1 chu kỳ sóng dài hơn (F khoảng 0.33Hz).

+ Hai phức bộ sóng này gồm phần lớn các sóng có tần số từ 0.5Hz đến 2Hz, giống như sóng delta của điện não đồ và sóng điện tim từ tần số chậm nhất đến tần số nhanh nhất, còn phần nhỏ các sóng khác đều chậm hơn sóng điện não và chậm hơn sóng điện tim rất nhiều.

+ Phức bộ sóng chậm có chu kỳ dài hơn chu kỳ sóng nhanh từ 3 đến hơn 4 lần, phức bộ sóng chậm có chu kỳ 1.5”- 7”, phức bộ sóng nhanh có chu kỳ 0.5”- 1,5”.

+ Các sóng của cả 2 phức bộ này đều tập hợp thành từng nhóm từ 5 sóng đến hơn chục sóng với biên độ tăng dần rồi lại giảm dần, khiến chúng có tính chất như 1 sóng mang trong radio, được bao bởi 2 loại sóng có chu kỳ dài hơn: Ở phức bộ nhanh T = 8”- 10”. Ở phức bộ chậm T = 10”- 20”. Chúng hoàn toàn khác sóng điện não và điện tim.

 

4.2.2. Đặc điểm của sự xuất hiên nhóm sóng HĐT 2 pha mới:

+ Giữa 2 điện đồ liền kề , mỗi nhóm sóng giống nhau ở điện đồ dưới và điện đồ trên , bắt đầu và kết thúc cách nhau 1 khoảng thời gian gần như bằng nhau.

Nếu lấy biên độ cao nhất (đỉnh) của mỗi nhóm sóng, để dễ đối chiếu nhóm sóng thuộc huyệt này với nhóm sóng thuộc huyệt khác ở ngay trên hoặc dưới nó, ta thấy:

Đỉnh của nhóm sóng thuộc điện đồ trên ở trước hay ở sau đỉnh của nhóm sóng thuộc điện đồ dưới từ 1” đến 2”. ( Điện huyệt đồ 2)

Đỉnh của tất cả các nhóm sóng cùng 1 phức bộ thuộc mỗi huyệt, đều cùng ở trước hay đều cùng ở sau đỉnh của các sóng tương ứng ở điện đồ thuộc huyệt trên hoặc dưới nó.

Khi điện đồ chuyển từ phức bộ sóng này sang phức bộ sóng khác thì trật tự trước sau đảo ngược lại, ở phức bộ trước đỉnh sóng của điện đồ trên đứng trước đỉnh sóng điện đồ dưới, sang phức bộ sau đỉnh sóng điện đồ trên đảo vị trí thành đứng sau đỉnh sóng điện đồ dưới. Trên 1 số điện đồ điển hình, sự đảo ngược trước sau này sảy ra sau 1 nhóm sóng cùng tần số nhưng có số chu kỳ nhiều gấp 2-3 lần số chu kỳ của các nhóm sóng cùng tần số ở trước nó.

Đặc biệt, giữa 2 điện đồ liền kề nếu vị trí đỉnh của các nhóm sóng thuộc điện đồ trên đứng trước đỉnh của các nhóm sóng tương ứng thuộc điện đồ dưới thì cả 24 điện đồ đều cùng theo trật tự đỉnh nhóm sóng ở điện đồ trên đứng trước đỉnh nhóm sóng tương ứng ở điện đồ dưới. Nếu 1 điện đồ đổi vị trí đỉnh sóng thành đứng sau đỉnh sóng của điện đồ dưới nó thì cả 24 điện đồ cũng đổi vị trí theo.

 

+ Thử làm thống kê trên 30 vận động viên Wushu-Talu chúng tôi thấy :

- Hai huyệt Xung dương, 2 huyệt Thái bạch và huyệt Thần môn trái chỉ có phức bộ sóng chậm không có phức bộ sóng nhanh.

- Huyệt Hợp cốc phải và Thần môn phải có 8 VĐV điện đồ chỉ có phức bộ sóng chậm, còn 22 VĐV khởi đầu là phức bộ chậm rồi chuyển ngay sang phức bộ nhanh, hay ngược lại khởi đầu là phức bộ sóng nhanh sau chuyển ngay sang phức bộ sóng chậm.

- Hai huyệt Thái uyên, huyệt Hợp cốc trái và 2 huyệt Uyển cốt bắt đầu là phức bộ sóng chậm sau chuyển ngay sang phức bộ sóng nhanh hay ngược lại như trên.

- Huyệt Kinh cốt trái có 22 VĐV điện đồ khởi đầu cũng là phức bộ sóng chậm rồi sau chuyển sang phức bộ nhanh, còn 8 VĐV chỉ có phức bộ sóng nhanh.

- Huyệt Kinh cốt phải có 2 VĐV điện đồ khởi đầu cũng là phức bộ sóng chậm sau chuyển sang phức bộ sóng nhanh, còn 28 VĐV chỉ có phức bộ sóng nhanh.

- Từ huyệt Thái khê đến huyệt Thái xung gồm 10 huyệt chỉ có phức bộ sóng nhanh, không có phức bộ sóng chậm.

- Tổng hợp lại: Điện đồ 24 huyệt gồm 9 huyệt kết hợp phức bộ chậm với phức bộ nhanh, 5 huyệt chỉ có phức bộ chậm, 10 huyệt chỉ có phức bộ nhanh.

+ Những quan sát, thống kê trên cho thấy: Sự vận hành của các phức bộ sóng nhanh hay chậm là sự vận hành có qui luật, theo trình tự từ điện đồ thứ nhất đến điện đồ thứ 24, hay từ điện đồ thứ 24 lên điện đồ thứ nhất. Vậy sự vận hành này tuân theo qui luật nào của các dòng sinh điện ?

- Phải chăng do các huyệt gần, kề nhau kích thích lẩn nhau ? Lấy 1 số lần đo đầu tiên của 1 VĐV chọn làm ví dụ , đối chiêú các huyệt Kinh cốt với Khâu khư ở cả 2 chân, các huyệt Xung dương Thái bạch với Thái xung Khâu khư cả 2 chân, các huyệt Thần môn Thái uyên với Đại lăng cả 2 tay, tất cả đều là những huyệt rất gần nhau, chúng chỉ cách nhau từ 1.5Cm đến 6Cm, nhưng những huyệt trước là phức bộ sóng chậm, những huyệt sau lại là phức bộ sóng nhanh. Hay lấy 1 số lần đo cuối cùng để đối chiếu một số huyệt với nhau, ta cũng thấy sự khác nhau như thế. Hiện tượng này cho thấy: không phải do các huyệt gần nhau kích thích lẫn nhau, như vậy mỗi huyệt phải  được cách điện rất tốt với huyệt khác, nếu không các phức bộ sóng gần nhau sẽ tác động lên nhau làm cho điện đồ rối loạn.

- Hiện tượng trên còn cho thấy: mỗi huyệt phải ở trên 1 điểm khác nhau của điện trường tổng hợp trung bình của toàn cơ thể, nên mới có phức bộ sóng khác nhau. (Nếu 2 huyệt có cùng 1 phức bộ sóng và trị số hiệu điện thế như nhau là chúng cùng ở trên một  mặt đẳng thế của điện trường tổng hợp trung bình toàn cơ thể).

+ Trở lại sự lệch thời gian xuất hiện nhóm sóng mới , hay kết thúc nhóm sóng cũ , của 2 điện đồ liền kề:

Trong 2 đến 10 lần đo liên tiếp, lấy sự xuất hiện đỉnh sóng cho dễ quan sát. (Điện huyệt đồ 2)

Như trên đã nhận xét, sự xuất hiện nhóm sóng mới ở điện đồ trên chậm hoặc nhanh hơn sự xuất hiện nhóm sóng mới ở điện dồ dưới liền kề từ 1” đến 2”, diễn ra nhất quán từ huyệt Thái uyên trái đến huyệt Thái xung phải. Vậy sự tuần hoàn nhất quán này tuân theo qui luật nào của các dòng sinh điện ?

- Chắc chắn không phải do tương quan giữa các hiệu điện thế của các huyệt gần kề bên nhau, không phải do điện trường của huyệt này kích thích điện trường của huyệt khác, ở kề bên nó, chuyển sang nhóm sóng mới theo nó. Vì như thế thì huyệt Đại lăng phải kích thích huyệt Thần môn cùng tay chuyển nhóm sóng theo nó sau một vài giây, hay huyệt Thần môn phải kich thích huyệt Đại lăng cùng tay chuyển nhóm sóng trước nó một vài giây. Nhưng trong thực tế, 24 điện đồ liên tiếp cho thấy huyệt Đại lăng chuyển nhóm sóng trước hay sau huyệt Thần môn trung bình 12”.

- Phải chăng, sự lệch thời gian xuất hiện nhóm sóng mới giữa 2 điện đồ liền kề, là do cường độ điện trường trung bình tại vị trí các huyệt cùng nằm trên các mặt đẳng thế giống nhau, hay nằm trên 2 mặt đẳng thế gần nhau quyết định ?

Xét về mặt cấu trúc hình học của các huyệt trái phải cùng tên thì 2 huyệt cùng tên đều nằm trên 2 mặt đẳng thế giống nhau, chúng sẽ có HĐT như nhau, nhưng chúng lại cách nhau rất xa (đẳng thế giống nhau vì chúng đối xứng qua mặt phẳng trước sau ở chính giữa cơ thể).  Trên điện đồ ta cũng thấy ở tất cả các huyêt cùng tên sự xuất hiện nhóm sóng mới của huyệt trái đều cùng sớm hơn, hay cùng muộn hơn huyệt phải từ 1”đến 2”; nhưng trên thống kê ta chỉ thấy hiệu điện thế của 5 đôi huyệt (Hợp cốc, Xung dương, Thái bạch, Kinh cốt, Thái khê) có số nguyên mV như nhau, hai huyệt Thái uyên và hai huyệt Thái xung nằm trên 2 mặt đẳng thế có số nguyên mV khác nhau 1 đơn vị song chênh lệch chưa quá 1mV nên chúng cũng tác động lên nhau như 5 đôi huyệt trên, 5 đôi huyệt còn lại đều nằm trên 2 mặt đẳng thế cách nhau hơn 1mV nên khó tác động lên nhau hơn.

Còn các huyệt khác tên, sự chênh lệch HĐT giữa chúng rất lớn , nếu 2 huyệt khác tên không có quan hệ biểu lý, chênh lệch HĐT của chúng có thể lên tới 4-5mV, như huyệt Thần môn trái lớn hơn huyệt Thái bạch phải 4,27mV, 2 huyệt này nằm trên 2 mặt đẳng thế khác nhau và cách xa nhau nhiều, nhưng lại là 2 điện đồ liền kề nhau và sự xuất hiện các nhóm sóng HĐT 2 pha mới tuân theo quy luật bậc thang. Nếu 2 huyệt khác tên có quan hệ biểu lý với nhau, chênh lệch HĐT giữa chúng ít hơn, 2 huyệt Xung dương phải và Thái bạch trái có chênh lệch lớn nhất trong nhóm huyệt này cũng chỉ ở mức 3mV, nên chúng ở trên 2 mặt đẳng thế gần nhau hơn. ( Xem Bảng HĐT trung bình 24 huyệt Nguyên)

Cho nên mối tương quan giữa các huyệt khác tên tạo nên bậc thang lệch thời gian, của sự xuất hiện nhóm sóng mới, không thể giải thích bằng cường độ điện trường tổng hợp trung bình hay mặt đẳng thế.

Tuy nhiên, mặt đẳng thế hay cường độ điện trường tổng hợp trung bình vẫn có nhiều liên quan với sự lệch thời gian xuất hiện nhóm sóng mới. Tương lai cần có những công trình nghiên cứu riêng biệt đi sâu vào vấn đề này.

Trong khi hiệu điện thế của 2 huyệt kề bên nhau không có liên quan với bậc thang xuất hiện nhóm sóng mới, cường độ điện trường tổng hợp trung bình hay mặt đẳng thế không phải là nguyên nhân chính tạo ra bậc thang này ! Chúng tôi vô cùng ngạc nhiên, khi nhận ra bậc thang xuất hiện nhóm sóng mới chậm dần, hay nhanh dần theo thời gian, khi đi từ huyệt Thái uyên trái xuống huyệt Thái xung phải, cũng chính là vòng “ Đại chu thiên” của dòng tuần hoàn kinh khí trong cơ thể ( thiếu 2 mạch Nhâm Đốc vì 2 mạch không có huyệt Nguyên nên chưa khảo sát ).

Sự xuất hiện nhóm sóng hiệu điện thế 2 pha mới trên 12 kinh mạch, theo trật tự đúng như trật tự của dòng tuần hoàn kinh khí chứng minh: Trật tự của dòng tuần hoàn kinh khí theo vòng “ Đại chu thiên” chính là nguyên nhân xuất hiện nhóm sóng hiệu điện thế mới theo trật tự bậc thang; cả 2 đều là những dòng tuần hoàn năng lượng, nhưng có một điểm khác nhau là kinh khí chỉ vận hành theo 1 chiều, còn sóng hiệu điện thế sinh học vận hành theo cả 2 chiều thuận, nghịch. Tương lai, điểm khác này cần được nghiên cứu tiếp và phân tích sâu thêm.

Tổng hợp lại, ta có thể nói : Vòng “ Đại chu thiên “ chính là nhân tố chủ yếu của bậc thang xuất hiện nhóm sóng hiệu điện thế mới, thuộc các phức bộ tần số khác nhau. Điện đồ ghi được tại mỗi huyệt chính là “Huyệt điện đồ” của huyệt đó.

Do tính liên thông của bậc thang này, nên mỗi đường kinh của vòng  “ Đại chu thiên” là 1 đường dẫn truyền các dòng sinh điện của toàn cơ thể. 12 đường kinh của mỗi bên trái phải nối liền với nhau theo trật tự từ kinh Phế đến kinh Can, và trên đường đi chúng đều liên lạc với mọi cơ quan tổ chức trong cơ thể.

Do dẫn truyền được các dòng 2 pha có phức bộ tần số khác nhau và biên độ điện thế khác nhau, nên chúng phải được cách điện tốt với đường kinh bên cạnh (như đã phân tich về 2 huyệt gần , kề bên nhau), ta có thể hình dung 6 đường kinh ở mỗi chi giống như 1 bó dây dẫn điện mà mỗi dây có 1 vỏ cách điện rất tốt bọc ngoài.

 

4.3. Các đặc tính của Dòng điện một chiều không đều:

Với hiệu điện thế 1 chiều không đều chúng tôi phải loại 2 VĐV còn 134 VĐV, kết quả của thống kê cho biết : hiệu điện thế trung bình là 32.64mV , gần bằng hiệu điện thế trung bình của dòng điện 2 pha 34.50mV .

Khác với hiệu điện thế 2 pha, ở hiệu điện thế 2 pha rất nhiều cặp so sánh chênh lệch hiệu điện thế có ý nghĩa thống kê và trị số T rất cao. Hiệu điện thế 1 chiều chỉ duy nhất có chênh lệch hiệu điện thế trung bình giữa VĐV nam và VĐV nữ là có ý nghĩa thống kê, với độ chênh lệch = 6.3mv và T = 2.70. Còn tất cả các cặp so sánh khác đều không có ý nghia thống kê vì trị số T rất thấp.

 

Phải chăng ? Do dòng điện 2 pha mang tính kích thích các tổ chức cơ quan hoạt động và làm các ions tích điện giao động , pha dương kích thích sự hoạt động vận động mạnh hơn, pha âm kích thích sự dinh dưỡng chuyển hoá mạnh hơn. Còn dòng điện 1 chiều vừa kích thích các tổ chức cơ quan hoạt động, vừa làm các ions tích điện chuyển động theo 1 chiều nhất định, ảnh hưởng đến dinh dưỡng chuyển hóa mạnh hơn dòng 2 pha; nữ giới có thiên chức sinh con và nuôi con nên cần nhiều chất dinh dưỡng cho mình và cho con, do đó hiệu điện thế 1 chiều của nữ lớn hơn của nam. Còn nam giới như trên đã phân tích năng động và gánh vác nhiều trọng trách nên hiệu điện 2 pha của nam lớn hơn của nữ.

 

4.4. Kết luận của phần A4:

 

4.4.1. Thành công chính của điều tra cơ bản này là  xác định được việc chẩn đoán bệnh hay không bệnh dựa vào HĐTTB của 24 huyệt Nguyên, đối chiếu với HĐTTB của cả 24 huyệt.

Nếu sự đối chiếu cho kết quả : HĐTTB của huyệt Nguyên nào ở thế CBĐ là huyệt đó bình thường, đại diện cho sự khoẻ mạnh.

Nếu sự đối chiếu cho kết quả : HĐTTB của huyệt Nguyên nào ở thế mất CBĐ là huyệt đó có bệnh, đại diện cho sự ốm đau.

Thành công này có 1 giá trị thực tiễn rất lớn, vì nó cho phép ta xây dựng các mô hình chẩn đoán để ứng dụng trên lâm sàng.

 

4.4.2. Những so sánh phân tích về HĐTTB của 24 huyệt Nguyên tuân theo quy luật của điện vật lý và điện sinh học, phù hợp với quy luật hoạt động sinh lý của cơ thể, tương đồng với quy luật âm dương tạng phủ kinh lạc, chỉ mang tính chất lý luận, gợi mở những hướng đi sâu nghiên cứu kỹ hơn, chưa có giá trị thực tiễn.

 

 

Liệu pháp DDS - điện sinh học mới đưa vào Việt Nam.

Bạn nào muốn trải nghiệm miễn phí, trị liệu, học nghề, kinh doanh bằng liệu pháp này thì liên hệ với chúng tôi:

 

Điện thoại  Trung tâm trợ giúp và điều phối: 0912251884

Website: http://thegioimatxa.net/dds

 

Ngun: DDS/Đin sinh hc

Xem : DDS – Đin sinh hc Trên Facebook .

Tham gia tho lun và chia s vi DDS – Đin sinh hc Trên Facebook

 

 

 

 

 

 

Bình luận

Các tin khác