Hình thức giáo dục hòa nhập (Inclusive Education) cho trẻ khuyết tật

(Thế giới matxa) - Giáo dục hoà nhập là giáo dục mô hình kinh tế nhất, mang tính nhân văn nhất. Mô hình này làm cho mọi trẻ em đi học đều vui, đều thấy rõ trách nhiệm của mình. Nó cũng làm cho người lớn gần gũi nhau hơn, có cơ hội hợp tác với nhau vì sự nghiệp giáo dục trẻ khuyết tật.


(Thế giới matxa) - Giáo dục hoà nhập là giáo dục mô hình kinh tế nhất, mang tính nhân văn nhất. Mô hình này làm cho mọi trẻ em đi học đều vui, đều thấy rõ trách nhiệm của mình. Nó cũng làm cho người lớn gần gũi nhau hơn, có cơ hội hợp tác với nhau vì sự nghiệp giáo dục trẻ khuyết tật.

 

1/ Khái niệm về giáo dục hòa nhập

Hòa nhập là khái niệm tương đối mới ở Hoa Kì, dần được sử dụng nhiều hơn trong các tuyên ngôn của Liên hợp quốc để chỉ một khái niệm linh hoạt nhằm biểu đạt quan điểm "quây quần lại chúng ta sẽ tốt hơn lên". Động từ gốc tiếng Latinh là Includere, có nghĩa là đóng cửa lại sau khi một người nào đó vào nhà. Định nghĩa thông thường của động từ tiếng Anh là Includere, có nghĩa là xem xét và nhìn nhận một cái gì đó như một phần của tổng thể.

Giáo dục hoà nhập được phân biệt với "trường hòa nhập" nhằm tránh nguy cơ hiểu giáo dục hòa nhập chỉ diễn ra và thực hiện trong môi trường nhà trường. Theo Tony Booth và Mel Ainsow, khi bàn đến giáo dục hòa nhập thường đề cập đến trẻ khuyết tật hay "trẻ có nhu cầu giáo dục đặc biệt". Tuy nhiên, giáo dục hòa nhập được hiểu là giáo dục cho tất cả mọi trẻ em, xây dựng môi trường giáo dục hòa nhập không chỉ là phương hướng hoàn thiện nhà trường theo các giá trị hòa nhập mà còn nhằm xây dựng các mối quan hệ hợp tác và cải thiện tốt hơn môi trường dạy và học hòa nhập. Hòa nhập có liên quan đến sự thay đổi. Đó là quá trình không có hồi kết của hoạt động học tập và tham gia hoạt động học tập ngày càng tích cực hơn của trẻ. Nhà trường hòa nhập là nhà trường sẵn sàng cho sự thay đổi để phát triển.

Tác giả Irine Lopez, Trường đại học Gotenborgs Thụy Điển, nhìn nhận giáo dục hoà nhập theo tiến trình lịch sử phát triển của giáo dục và không chỉ dành riêng cho đối tượng trẻ khuyết tật. Theo đó, sau giai đoạn giáo dục tách biệt, trẻ khuyết tật trong các trường đặc biệt cần được tái hội nhập vào hệ thống giáo dục chính quy. Điều này được gọi là giáo dục hội nhập. Hội nhập được hiểu theo hai nghĩa, thứ nhất đó là quá trình phối hợp hoặc đưa một hoặc nhiều phần khác nhau hợp lại thành một. Với nghĩa này, thuật ngữ hội nhập được dùng ở Thụy Điển để chỉ sự giải thể của các cơ sở nuôi dạy trẻ khuyết tật lớn tuổi và đưa trẻ gần với xã hội. Thứ hai, đó là quá trình đưa đến các hoặc tham gia các thành viên cộng đồng. Hai nghĩa này chỉ ra mục đích cuối cùng của hội nhập là tạo điều kiện cho mỗi người sống trong một cộng đồng đóng góp phần bình đẳng vào mọi hoạt động và công tác cộng đồng.

Giáo dục hoà nhập có tầm rộng hơn giáo dục hoà nhập. Giáo dục hoà nhập là dành cho mọi trẻ em, kể cả trẻ khuyết tật, trẻ có năng khiếu, trẻ em đường phố, trẻ em lao động sớm, trẻ em thuộc các dân tộc sống hẻo lánh hoặc dư cư, các nhóm thiếu số về mặt ngôn ngữ, hoặc nhóm cư dân thiệt thòi hoặc bị đẩy ra ngoài lề xã hội.

Giáo dục hoà nhập được tến hành với các tiền đề mà theo dó nhà trường sẽ tốt đối với mọi người nếu nhà trường thu nhận mọi trẻ em trong cộng đồng. Giáo viên sẽ tốt hơn khi họ có trách nhiệm với trẻ em. Đảm đương được trách nhiệm này, giáo viên sẽ trở nên tích cực hơn, sáng tạo hơn, hiểu được nhu cầu của từng trẻ.

Nguyên lí của các giáo dục hoà nhập là thừa nhận tính đa dạng, nhận thức khác biệt giữa mọi cá nhân của từng trẻ chứ không bắt buộc từng trẻ phải chịu sự chi phối của các giả thuyết sẵn có trong nội dung, tiến độ và tính cách của quá trình học tập.

Giáo dục hoà nhập không phải là một từ mới để biểu đạt một khái niệm cũ. Nếu hội nhập có nghĩa là giải thể các trường học và đưa trẻ khuyết tật nặng và hoạt động của trẻ vào xã hội thì giáo dục hoà nhập cần hiểu là một chiến lược không chỉ là đưa trẻ khuyết tật đến các nhà trường bình thường. Mục tiêu của giáo dục hoà nhập: 1) Phấn đấu tiến tới một nền giáo dục cho mọi trẻ em, chấp nhận sự đa dạng của con người bằng cách quan tâm đến mọi trẻ em trong một  lớp học; 2) Giáo dục hoà nhập không phải là sự hoà đồng. Nó đề ra một thế giới mà ở đó mọi người khác biệt nhau. Đó là điều có thể phát huy nhưũng sự khác biệt ấy của trẻ khi đưa nó vào cuộc sống chung.

Giáo dục hoà nhập có nghĩa là đón nhận mọi trẻ em, không có sự phân biệt, vào học ở các trường bình thường. Bằng cách thay đổi thái độ như vậy, sự khác biệt giữa các cá nhân có thể được nhìn nhận ở góc độ tích cực hơn. Đồng thời nó cũng đòi hỏi trẻ em phải để biết sống và biết học hỏi lẫn nhau. Giáo dục hoà nhập có ý nghĩa sâu sắc đó là các thành viên cộng đồng sẵn sàng chấp nhận một thực tế mới.

Khái niệm giáo dục hoà nhập có tính chất linh hoạt. Hoà nhập là một hoạt động và trong tất cả mọi hoạt động. Điều cần phẩi có là sự tận tuỵ, chăm chỉ và khả năng hài hước của tất cả mọi người trước những thách thức của giáo dục hoà nhập.

Giáo dục hoà nhập không có nghĩa là giáo dục hay dạy học cá nhân mà là sự trang bị cho giáo viên những kiến thức, kĩ năng cần thiết để dạy học hợp tác và đáp ứng nhu cầu, năng lực cá nhân. Giáo dục hoà nhập là môi trường mọi người thể hiện được thái độ ủng hộ và sự thừa nhận các nhu cầu của con ngưòi. Nó là thay đổi kiểu suy nghĩ truyền thống về sự cô lập, sự khinh miệt và quan tâm với mọi trẻ và trong toàn bộ môi trường. Giáo dục hoà nhập mang ý nghĩa lao động tập thể, cuối cùng là trách nhiệm với toàn bộ học sinh và nhà trường.  GDHN còn là mnột công cụ vận động cho quyền mọi người, khuyến khích và củng cố các nguyên tắc được nêu trong các công ước quốc tế và nhiều tài liệu quan trọng khác.

Theo những nghiên cứu của các chuyên gia giáo dục trẻ khuyết tật nước ta, thuật ngữ giáo dục hoà nhập được xuất phát từ Canada và được hiểu là những trẻ ngoại lệ được hoà nhập, quy thuộc vào trường phổ thông. Giáo dục hoà nhập là giáo dục mọi trẻ em, trong đó có trẻ khuyết tật, trong lớp học bình thường có trường phổ thông. Giáo dục là nhập là "Hỗ trợ mọi học sinh, trong đó có trẻ khuyết tật, cơ hội bình đẳng tiếp nhận dịch vụ giáo dục với những hỗ trợ cần thiết trong lớp học, phù hợp tại trường phổ thông nơi trẻ sinh sống, nhằm chuẩn bị trở thành những thành viên đầy đủ của xã hội". Hoà nhập không có nghĩa là "xếp chỗ" cho trẻ khuyết tật trong trường, lớp phổ thông và càng không phải, tất cả mọi trẻ em đều đạt trình độ như nhau trong mục tiêu giáo dục. Giáo dục đòi hỏi sự hỗ trợ cần thiết để  mọi học sinh phát triển hết khả năng". Sự hỗ trợ được thể hiện trong điều chỉnh chương trình, đồ dùng dạy học, dụng cụ hỗ trợ đặc biệt, và trong kĩ năng giảng dạy đặc thù,… Giáo viên và nhân viên và nhân viên nhà trường, cần thấm nhuần tư tưởng hoà nhập để trẻ khuyết tật được phụ thuộc lẫn nhau, được chấp nhận, có giá trị và được hỗ trợ của bạn bè,…"Trường hoà nhập tổ chức giải quyết vấn đề đa dạng, nhằm chú trọng đến việc học của trẻ. Mọi giáo viên, cán bộ và nhân viên nhà trường cam kết làm việc cùng nhau, tạo ra và duy trì môi trường đầm ấm, có hiệu quả cho việc học tập. Trách nhiệm cho mọi trẻ được chia sẻ".

Như vậy: Giáo dục hoà nhập là phương thức giáo dục trong đó trẻ khuyết tật cùng học với trẻ em bình thường, trong trường phổ thông ngay tại nơi trẻ đang sinh sống. Giáo dục hoà nhập có những đặc trưng cơ bản: 1)Giáo dục cho mọi đối tượng trẻ em, không phân biệt giới tính, dân tộc, tôn giáo, điều kiện kinh tế, thành phần xã hội; 2) Trẻ đi học ở cơ sở giáo dục tại nơi trẻ đang sinh sống; 2) không đánh đồng mọi trẻ, mỗi trẻ là khác nhau; 4) điều chỉnh phù hợp với khả năng và nhu cầu của trẻ về mục tiêu, nội dung, phương pháp, đánh giá kết quả giáo dục.

 

2/ Bản chất của giáo dục hoà nhập

          - Giáo dục cho mọi đối tượng học sinh. Đây là tư tưởng chủ đạo, yếu tố đầu tiên thể hiện bản chất của giáo dục hoà nhập. Trong giáo dục  nhập không có sự tách biệt giữa học sinh với nhau. Mọi học sinh đều tôn trọng và đều có giá trị như nhau.

          - Học ở trường nơi mình sinh sống

          - Mọi học sinh đều cùng được hưởng một giáo dục chương trình phổ thông. Điều này vừa thể hiện sự bình đẳng trong giáo dục, vừa thể hiện sự tôn trọng.

          - Điều chỉnh chương trình, đổi mới phương pháp dạy học và thay đổi quan điểm, cách đánh giá là vấn đề cốt lõi để giáo dục hoà nhập đạt hiệu quả cao nhất.

          - Điều chỉnh chương trình là việc làm tất yếu của giáo dục hoà nhập, có điều chỉnh chương trình cho phù hợp thì mới đáp ứng cho mọi trẻ em có nhu cầu, năng lực khác nhau.

          - Giáo dục hoà nhập không đánh đồng mọi trẻ em như nhau. Vì thế, điều chỉnh chương trình cho phù hợp là cần thiết.

          - Dạy học một cách sáng tạo, tích cực và hợp tác. Đó là mục tiêu dạy học hoà nhập.

          - Dạy học hoà nhập sẽ tạo ra được cho trẻ kiến thức chung, tổng thể, cân đối. Muốn thế, phương pháp học hợp tác. Phải biết lựa chọn phương pháp và sử dụng đúng lúc: phương pháp đồng loạt, phương pháp đa trình độ, phương pháp trùng lập giáo án, phương pháp thay thế, phương pháp cá biệt.

Bảng so sánh các yếu tố của giáo dục hoà nhập

và các yếu tố không phải là giáo dục hoà nhập

Các yếu tố của giáo dục hoà nhập Các yếu tố không phải là giáo dục hoà nhập
Giáo dục mọi đối tương học sinh. Giáo dục cho một số đối tượng học sinh.
Học sinh được học ở trường thuộc khu vực sinh sống Học sinh khuyết tật được gửi tới trường học chuyên biệt khác với trường học của anh, chị, em hay hàng xóm của các em
Học sinh được bố trí vào lớp học phù hợp với lứa tuổi trong môi trường giáo dục phổ thông. Học sinh được bố trí vào lớp học không phù hợp với lứa tuổi trong môi trường giáo dục phổ thông.
Cung cấp các dịch vụ giúp đỡ học sinh. Học sinh phải rời môi trường giáo dục phổ thông để tìm các dịch vụ và sự trợ giúp.
Dạy học một cách sáng tạo, tích cực và hợp tác. Dạy học một cách thụ động, lặp đi lặp lại và không hợp tác.
Bạn bè cùng lứa giúp đỡ lãn nhau. Bạn bè cùng lứa hoạt động độc lập hoặc cạnh tranh nhau.
Học sinh với những khả năng khác nhau được theo hộc nhóm. Học sinh với những khả năng giống nhau được theo hộc nhóm.
Điều chỉnh chương trình, đổi mới phương thức daỵy học và cách đánh giá. Chuẩn bị hoá chương trình, phương pháp dạy học và cách đánh giá.
Mọi học sinh đều là thành viên của tập thể. Một số học sinh đều là thành viên của tập thể, số khác phải đánh đổi để được là thành viên của tẩp thể.
Lớp học có tỉ lệ học sinh hợp lí. Lớp học có tỉ lệ học sinh khuyết tật khá lớn
Một học sinh được hưởng cùng một chương trình giáo dục phổ thông. Chương trình giáo dục cá nhân không liên quan đến chương trình giáo dục phổ thông.
Giáo viên phổ thông và chuyên biệt cùng chia sẻ trách nhiệm giáo dục mọi đối tượng học sinh. Giáo viên phổ thông và chuyên biệt không cùng chia sẻ trách nhiệm giáo dục mọi đối tượng học sinh.
Sự đa dạng được đánh giá cao. Sự đa dạng không được đánh giá cao.
Chú trọng những điểm mạnh của học sinh. Chú trọng những điểm yếu của học sinh.
Với phương pháp dạy học đa dạng, học sinh tham gia vào các họat  động chung và đạt được các kết quả khác nhau. Với phương pháp dạy học và yêu cầu đã được chuẩn hoá, học sinh tham gia vào các hoạt động riêng biệt.
Cân bằng hiệu quả giữa kiến thức và xã hội Chỉ chú trọng đến hiệu quả về mặt kiến thức.
Lập kế hoạch cho quá trình chuyển tiếp của học sinh. Không có quá trình kế hoạch chuyển tiếp.

 

3/ Tính tất yếu của quá trình hoà nhập

          Giáo dục hoà nhập là một xu thế, là một sự tất yếu của thời đại. Tại hội nghị về giáo dục cho trẻ khuyết tật tại Agra, Ấn độ (3/1998) do UNESCO tổ chức đã khẳng định xu hướng: Giáo dục hoà nhập cho mọi trẻ em. Những nội dung sau đây sẽ lí giải tại sao phải tiến hành giáo dục hoà nhập cho mọi trẻ em, trong đó có trẻ em khuyết tật.

 

3.1/ Đáp ứng mục tiêu giáo dục

           UNESCO đã đề ra 4 mục tiêu đào tạo con người như sau:

          - Học để làm người.

          - Học để biết.

          - Học để làm.

          - Học để cùng chung sống.

Về thực chất, các mục tiêu trên có cùng điểm trùng với mục tiêu giáo dục các thành viên trong cộng đồng của người da đỏ đã đưa ra cách đây hàng nghìn năm. Theo quan điểm của họ, mỗi người dân da đỏ muốn tồn tại được cần phải phấn đấu để đạt đồng đều 4 phần của "Vòng can đảm" sau:

 

Tính quảng đại
Tính độc lập, và tự chủ
Tính hoà nhập, quy thuộc
Thông đạt về kiến thức
 

 


Trong giáo dục hoà nhập cả 4 mục tiêu trên cần đạt được ở mỗi trẻ là thành viên chính thức của cộng đồng. Xem xét từng nhóm mục tiêu.

a. Tính hoà nhập, quy thuộc

Có bạn bè, có thể kết bạn và giữ mối quan hệ tốt. Được chung sống và cùng làm việc với người khác trong cộng đồng, xã hội. Được là thành viên của gia đình, cộng đồng. Các em được chào đón và đều được đánh giá như nhau. Các em phải biết sống hoà nhập, hợp tác với nhau trong một tập thể, các em được phụ thuộc một cách tích cực.

b. Thông đạt kiến thức, kĩ năng

Thành đạt và có khả năng tốt trong một hoặc một vài lĩnh vực. Được phát triển toàn diện. Có tư duy linh hoạt và năng lực giải quyết các vấn đề. Có động cơ đúng đắn. Có tri thức văn hoá và có khả năng làm chủ kĩ thuật. Được tiếp tục học tập và có khả năng cao trong lĩnh vực quan tâm.

Trẻ phải được tiếp thu những kiến thức, kĩ năng cơ bản, cần thiết phù hợp với nhu cầu và năng lực của mỗi em. Mỗi đứa trẻ có khả năng khác nhau trong các lĩnh vực khác nhau. Để đạt được mục tiêu này, trong quá trình giáo dục luôn chú ý đến điều trên. Khi đã có kiến thức và kĩ năng, các em phải có thái độ đúng, ứng xử một cách linh hoạt với mọi vấn đề đặt ra.

c. Tính độc lập

Có cơ hội chọn nghề và niềm tin, yêu thích vài công việc đã chọn. Có trách nhiệm cá nhân cao, chịu trách nhiệm về hành động và quyết dịnh của mình. Được độc lập trong mọi lĩnh vực.

Tính độc lập, tự chủ trong cuộc sống, làm thế nào để trẻ đạt được mục tiêu đó? Luôn luôn dạy trẻ có lòng tự trọng, tự tin, tự học hỏi, biết chấp nhận, tiếp nhận thông tin để phát triển. Có độc lập tự chủ mới có sáng tạo. Những điều này rất cần cho cuộc sống lao động, hội nhập cộng đồng trong tương lai khi trẻ đã trưởng thành.

d. Có tính quảng đại, lòng hào hiệp

Được đóng góp cho gia đình và xã hội. Có lòng nhiệt tình. Yêu thương, chăm sóc, giúp đỡ người khác.

Trẻ được học tập, được sự giúp đỡ của mọi người trong quá trình tiếp nhận thông tin, lĩnh hội tri thức rèn luyện kĩ năng và tiến đến trình độ làm việc độc lập, sáng tạo; lúc này trẻ phải thể hiện giá trị của mình bằng sự cống hiến cho xã hội. Đây là mục tiêu rất quan trọng. Mục tiêu này định hướng giá trị của mỗi người trước những vấn đề của cuộc sống, thực tiễn đặt ra. Trong cuộc sống, sự giúp đỡ lẫn nhau là tất yếu. Mỗi người nhận được sự giúp đỡ lúc này và phải giúp đỡ người khác khi cần.

Những nhà giáo dục hiểu biết về chương trình giáo dục cho thế kỷ 21 chắc chắn hiểu và đồng tình với ý kiến: giáo dục cho mọi trẻ em. Một nền giáo dục có hiệu quả trong đó cần thay đổi chương trình, phương pháp dạy học, tổ chức và thực hành (tăng cường hợp tác học tập theo nhóm, trẻ em là chủ thể của lĩnh hội kiến thức, cùng tham gia một cách tích cực; chú trọng kĩ năng xã hội và giao tiếp …).

 

3.2/ Thay đổi quan điểm giáo dục

Chúng ta biết rằng giáo dục trong nhà trường là đào tạo ra những con người cho xã hội của tương lai và những kĩ năng, thái độ và thiên hướng sẽ cần cho xã hội. Thực tế nhiều trường học hiện nay vẫn còn được xây dựng và hoạt động theo các quan điểm của nhưng thế kỉ 19, đầu thế kỉ 2.

Truớc đây người ta đã quyết định rằng cần phải phân loại trẻ em càng kĩ càng tốt. Bằng thang đó trí lực cho biết chỉ số IQ, trẻ em đã được chuẩn đoán để có thể phát hiện ra các tài năng sớm. Những trẻ em sau khi đã được phân loại cần được dạy theo một chương trình riêng, theo một phương pháp riêng. Người ta cho rằng cách đào tạo này sẽ có hiệu quả hơn. Thực tế đã chỉ ra  rằng trẻ em được học kiểu này đã không phát triển hết các khả năng của mình thậm chí còn bị lệch lạc trong phát triển.

Xu thế giáo dục đa trình độ. đa phương pháp phát huy tính độc lập học tập hay sự tham gia tích cực của học sinh đã trở nên phổ biến. Hiện nay Việt Nam đang xây dựng chương trình tiểu học năm 2000 trong đó chú trọng đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh. Phương pháp dạy học tập chung vào hoạt động của người học trở nên ngày càng phổ biến.

Những nhà giáo dục hiểu biết về chương trình giáo dục cho thế kỉ 21 chắc chắn hiểu và đồng tính với ý kiến: giáo dục cho mọi trẻ. Một nền giáo dục trong đó cần thay đổi chương trình, phương pháp dạy học, tổ chức và thực hành (tăng cường hợp tác họ tập theo nhóm, trẻ em là chủ thể của lĩnh hội kiến thức, cùng tham gia một cách tích cực; chú trọng kĩ năng xã hội và giao tiếp vv…).

 

3.3/ Tính hiệu quả

          Được giáo dục trong môi trường hoà nhập, trẻ có những dạng khó khăn khác nhau đều tiến bộ hơn, các tiềm năng của trẻ được khơi dậy và phát triển tốt hơn so với cách giáo dục trong môi trường khác. Thực tế hơn 10 năm tiến hành giáo dục hoà nhập ở Việt Nam và các kinh giáo dục trên thế giới cho thấy tính hiệu quả đối với đối tượng trẻ cụ thể.

          Chẳng hạn, tính đến năm học 2004 - 2005, có khoảng 230.000 trẻ khuyết tật (chiếm 24.22%) trong độ tuổi đi học đến trường. Trong đó khoảng (32.55%) trong độ tuổi tiểu học đến trường.

                   Biểu đồ: số lượng trẻ khuyết tật được đi học qua các giai đoạn

         

 

 

 

****************************************

 

3.4/ Cơ sở pháp lí

          Vấn đề bình đẳng trong việc có cơ hội học tập và nhiều quyền khác đã được nêu trong Công ước Quốc tế và quyền trẻ em (điều 18, 23), trong công ước về giáo dục cho mọi người và gần đây nhất, trong tuyên ngôn về giáo dục đặc biệt Salamanca (Tây Ban Nha, 1945): "Giáo dục là quyền của con người và những người khuyết tật cũng có quyền được học trong các trường phổ thông và các trường đó phải được thay đổi để tất cả trẻ em đều được đi học".

          Tuyên ngôn về quyền của con người của Liên hiệp quốc được bổ sung bởi tuyên ngôn về quyền của những người tàn tật trong đó đã nêu rõ: "Những người tàn tật phải có quyền được tôn trọng phẩm giá. Những người tàn tật dù họ có nguồn gốc gì, bản chất ra sao và sự bất lợi do bệnh tật gây ra như thế nào cũng đều có quyền bình đẳng như mọi người khác".Khái niệm bình đẳng được làm sáng rõ. Những nguyên tắc về quyền bình đẳng đối với người tàn tật (không có sự ám chỉ đến tật nguyền cụ thể) là những nhu cầu của mỗi người và của mọi cá nhân trong xã hội đều có tầm quan trọng như nhau. "Những nhu cầu đó cần được tôn trọng và đáp ứng nhằm đảm bảo cho mọi cá nhân đếu có cơ hội phát triển để tham gia một cách bình đẳng vào công việc trong xã hội".

          Năm 1983, 120 Quốc gia thành viên của Liên hợp quốc đã chấp nhận những nguyên tắc cơ bản về quyền của người tàn tật. Đặc biệt là quyền được  giáo dục. Vấn đề giáo dục trẻ khuyết tật được thực hiện trong hệ thống nhà trường chung. Những luật pháp liên quan đến nền giáo dục bắt buộc sẽ bao gồm tất cả mọi trẻ em thuộc mọi dạng khuyết tật, kể cả những em bị khuyết tật nặng.

          Vấn đề đã được mở rộng trong tuyên ngôn thế giới về giáo dục cho mọi người (1990). Tuyên ngôn đã khuyến nghị các quốc gia phải quan tâm đến nhu cầu giáo dục đặc biệt của trẻ khuyết tật và tạo điều kiện bình đẳng trong giáo dục cho mọi trẻ khuyết tật như là một bộ phận thiết yếu của hệ thống giáo dục quốc dân.

Công ước của liên hợp quốc của quyền trẻ em một lần nữa nhấn mạnh đến các quyền cơ bản của trẻ khuyết tật. Khái niệm về quyền trẻ em được làm sáng tỏ trên nguyên tắc cơ bản của các quyền trẻ em là xã hội có trách nhiệm đáp ứng nhu cầu cơ bản của trẻ em và cung cấp các dịch vụ, sự giúp đỡ cần thiết cho sự phát triển của mỗi cá nhân về mọi mặt, nhân cách, năng lực, tài năng…

 

 

 

Không phân biệt đối sử
Những lợi ích tốt nhất của trẻ em  
Quyền được tham gia
 

 

 

 

 

 

 

 

 


          Trong luật phổ cập giáo dục, Luật Chăm sóc và bảo vệ trẻ em, Luật Chăm sóc sức khoẻ ban đầu; Luật giáo dục, Pháp lệnh về người tàn tật,… cũng đều có đề cập đến vấn đề trẻ khuyết tật được có quyền như mọi trẻ em và Nhà nước phải tạo mọi điều kiện, ưu tiên thực hiện các quyền đó.

 

3.5/ Sự gia tăng dân số và trẻ khuyết tật

          Sự gia tăng dân số kéo theo số trẻ khuyết tật ngày càng gia tăng. Theo số liệu của Tổ chức Y tế thế giới, khi nền văn minh nhân loại càng phát triển, thì tỉ lệ trẻ khuyết tật tăng theo nền văn minh nhân loại. Cũng theo Tổ chức này, hiện tại tỉ lệ người khuyết tật trên thế giới là 8-10% dân số con số này sẽ tăng lên 12 -15% vào năm 2020. So sánh giữa hai thành phố Hà Nội và Hồ Chí Minh ta thấy Tp. HCM được đô thị hoá mạnh hơn, có thu nhập cao hơn thì số trẻ điếc cũng cao hơn. Và cũng theo số liệu của Ông Barry Wright, Giám đốc chương trình giáo dục trẻ khiếm thính tại Việt Nam do Uỷ ban II Hà Lan tài trợ, hàng ngày có 8 trẻ em sinh ra có khuyết tật thính giác, như vậy hàng năm nước ta sẽ có khoảng 3.000 trẻ khiếm thính ra đời; Mặt khác trong quá trình sinh sống, do những nguyên nhân khác nhau hàng ngày có khoảng 12 trẻ em bị mắc bệnh thính giác. Như vậy, với 15 năm trong độ tuổi đi học chúng ta sẽ có tới khoảng 100.000 trẻ khiếm thính. Với số lượng như vậy, chúng ta sẽ tổ chức giáo dục như thế nào, trong khi với sự nỗ lực trong nhiều năm các trường chuyên biệt của chúng ta mới chỉ có chỗ ngồi cho chưa đến 4000 trẻ trong 92 cơ sở giáo dục chuyên biệt loại trẻ này.

 

3.6/ Tính kinh tế

          - Đỡ tốn kém.

          - Giải quyết được nhiều trẻ đi học

          Như ta biết, kinh phí giáo dục cho một trẻ khuyết tật là rất đáng quan tâm, gồm các chi phí cho học sinh, đào tạo giáo viên, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học,… Theo số liệu tổng hợp từ các cơ sở, chi phí cho một trẻ khiếm thính trong một năm (1994):  Trung tâm Lái Thiêu (nội trú) - khoảng 4 triệu, Trường Xã Đàn Hà Nội (ban trú) - khoảng 2 triệu trong đó chưa tính đào tạo giáo viên và máy trợ thính. Chi phí cho cơ sở vật chất ban đầu cũng là điều cần đề cập; Xây dựng cơ sở vật chất của Trung tâm Vinh, Nghệ An trên 5 tỉ cho lưu lượng học sinh khoảng 200 trẻ.

          Trong chương trình giáo dục hoà nhập tại Thường Tín, chi phí cho một trẻ khiếm thính khoảng 600 nghìn (đào tạo giáo viên và lương cho giáo viên). Con số đưa ra đây không phải nhằm vào sự so sánh. Vì bất kể sự so sánh nào cũng là khập khễnh và nếu so sánh thì phải tập trung tất cả các mặt như kết quả giáo dục, tính duy trì, sự tham gia của cộng đồng.v.v. Chúng ta biết rằng giáo dục hoà nhập không chỉ để giải quyết vấn đề ngân sách, chúng ta cần nhìn nhận vấn đề làm thế nào để trẻ hưởng lợi nhiều nhất. Tuy nhiên, không là sai khi nói về hiệu quả mà không tính đến mặt trách nhiệm chi phí. Như ta biết, giáo dục thường bị coi là phung phí qua việc phối kết hợp trong các nguồn lực trong chương trình, những người trực tiếp tham gia vào chương trình.v.v…

          Cũng cần tránh tư tưởng cho rằng giáo dục hoà nhập là ít tốn kém hơn nhiều so với giáo dục chuyên biệt, nên không cần chi phí nhiều. Trên thực tế tại nhiều nước, giáo dục hoà nhập nhiều khi cần có nguồn chi phí không kém giáo dục chuyên biệt như Niu Dilân. Còn ở Têchdat Hoa Kì do chi phí cho trẻ khuyết tật trong lớp hoà nhập chỉ bằng 1/10 so với trường chuyên biệt nên hệ quả là nhà trường không muốn nhận trẻ khuyết tật và tỉ lệ học sinh hoà nhập là 5% trong tổng số trẻ khuyết tật, so với các bang khác là 53%.

 

3.7/ Giáo dục hoà nhập là mô hình giáo dục trẻ khuyết tật có nhiều hiệu quả nhất

          Trong giáo dục hoà nhập, trẻ khuyết tật được học ở môi trường bình thường, học ở trường gần nhà nhất. Điều này tạo cho các em không có sự tách biệt với bố, mẹ, anh, chị trong gia đình. Các em luôn gần gũi với bạn bè, người thân, người quen ở làng, xã. Sống trong môi trươìng như vậy ở các em luôn có niềm tin về sự an toàn. Những xúc động, vui, buồn trong tình cảm diễn ra một cách khác, không có sự hẫng hụt đáng tiếc. Trong điều kiện đó các em yên tâm phấn đấu, học tập và phát triển.

          Các em cùng được học một chương trình với các bạn bình thường khác. Chương trình và phương pháp ở đây sẽ được điều chỉnh, đổi mới cho phù hợp với nhu cầu, năng lực của các em. Dạy học như vậy sẽ đưa đến hiệu quả cao, các em sẽ phát triển hết khả năng của mình.

          Giáo dục hoà nhập coi trọng sự cân đối giữa kiến thức và kĩ năng xã hội. Môi trường giáo dục thay đổi, các em tự do giao lưu, giúp đỡ lẫn nhau làm cho các em phát triển toàn diện hơn và thích ứng với môi trường xã hội.

Giáo dục hoà nhập sẽ tạo ra cơ hội, môi trường để các lực lượng tham gia giáo dục có điều kiện hợp tác với nhau vì mục tiêu chung. Đây cũng là môi trường mà mọi người trong cộng đồng có dịp tiếp cận với tẻ khuyết tật nhiều hơn, thấy rõ hơn những nhu cầu, tiềm năng của các em, những mặt mạnh, khó khăn của các em, từ đó thấy cần phải làm những gì để hỗ trợ các em nhiều hơn. Càng có nhiều người hiểu các em, giúp đỡ các em, chắc chắn các em sẽ có sự trưởng thành vượt bậc.

 

3.8/ Giáo dục hoà nhập là môi trường hoàn thiện nhất trong các môi trường giáo dục trẻ khuyết tật

          Hoàn thiện nhất vì nó tạo ra môi trường, cơ hội để trẻ khuyết tật phát triển tốt nhất khả năng của mình.

          Giáo dục hoà nhập có cơ sở lí luận vững chắc về đánh giá con người, về mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng và các giải pháp thích hợp trong tổ chức cũng như trong giáo dục.

          Giáo dục hoà nhập trẻ khuyết tật được áp dụng những lí luận dạy học hiện đại - lấy người học là trung tâm. Chương trình được điều chỉnh, phương pháp được đổi mới thích hợp cho học sinh.

          Giáo dục hoà nhập là giáo dục mô hình kinh tế nhất, mang tính nhân văn nhất. Mô hình này làm cho mọi trẻ em đi học đều vui, đều thấy rõ trách nhiệm của mình. Nó cũng làm cho người lớn gần gũi nhau hơn, có cơ hội hợp tác với nhau vì sự nghiệp giáo dục trẻ khuyết tật.

          Sự khác biệt giữa các mô hình giáo dục

          UNICEF và UNESCO đã giới thiệu bảng tổng hợp khái quát sự khác nhau giữa các hình thức giáo dục trong 11 tiêu chí so sánh như sau:

Hình thức giáo dục Chuyên biệt Hội nhập Hoà nhập
Trẻ Đặc biệt Được đưa càng gần "bình thường" càng tốt Đứa trẻ tồn tại như chính bản than nó
Trường học Chuyên biệt Lựa chọn trường "phổ thông" Trường hay ngay tại nơi trẻ sinh sống
Chương trình,phương pháp Đặc biệt Môn học làm trung tâm Lấy trẻ làm trung tâm
Hình thức giáo dục Chuyên biệt Hội nhập Hoà nhập
Giáo viên Chuyên biệt Giáo viên chủ nhiệm, giáo viên chuyên biệt, chuyên gia của các lĩnh vực liên quan Giáo viên chủ nhiệm
Hiệu quả giảng dạy của giáo viên Chuyên biệt cho nhóm trẻ cùng dạng tật Không thay đổi; chỉ có khả năng dạy trẻ "lành" Có khả năng giúp mọi trẻ trong quá trình học
Sự tự tin ở trẻ Thấp, cảm giác mình bị khác biệt Có cảm giác tốt hơn Cảm giác hoàn toàn tốt về bản thân
Môi trường Gần như bị tách biệt, từ chối Không thay đổi được bổ sung Giới hạn thấp nhất, mở rộng ngang bằng với những trẻ khác
Ngân sách Rất cao Đỡ đắt hơn Hầu hết đèu có hiệu quả
Tính bền vững Không bền vững Không chứng minh được bền vững Hoàn toàn bền vững
Cơ hội cho tham gia Rất hạn chế Một phần Bình đẳng như mọi trẻ
Quyền học tập của trẻ em Đối tượng của từ thiện Được thừa nhậnlà có quyền nhưng không thực thi Thực tế và cấp thiết

 

Bình luận

Các tin đọc nhiều

Các tin khác